Sỏi thận bệnh học: nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng

Sỏi thận là một bệnh lý thường gặp chiếm khoảng 3% dân số các nước phương Tây. Ở Việt Nam chưa có con số thống kê trong dân số nhưng số người mắc bệnh sỏi thận ngày càng nhiều. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng của sỏi thận theo bệnh học.

Sỏi thận là bệnh như thế nào
I. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH
Có khá nhiều nguyên nhân gây nên bệnh sỏi thận, thường là do nhiều nguyên nhân cùng phối hợp lại để tạo sỏi. Và cũng tùy từng nguyên nhân mà khác nhau cơ chế tạo sỏi cũng khác nhau. Những loại sỏi thận thường gặp là:
1. Sỏi calci: chiếm 90% trường hợp sỏi thận, thường là do nước tiểu bị quá bão hòa muối calci. Nguyên nhân tạo sỏi có thể do thiếu hoặc giảm citrat niệu quản- một chất có tác dụng ức chế kết tinh các muối calci. 
2. Sỏi acid uric:
Do tăng acid uric máu làm cho nước tiểu quá bão hòa acid uric và tạo sỏi. 
3. Sỏi struvit:
Do nhiễm khuẩn tiết niệu, vi khuẩn tiết ra men urease làm phân hủy urê và tạo thành amoniac. Khi Amoniac bị phân hủy sẽ tạo thành amonium NH4+ và OH gây ra kiềm hóa nước tiểu. Lúc đó, struvit (MgNH4PO.6H2O) sẽ được tạo thành và trong điều kiện nước tiểu kiềm hóa thì nó khó hòa tan và dẫn đến tạo sỏi.
4. Sỏi oxalat:
Xuất phát từ nguyên nhân do di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường sẽ gây loạn dưỡng oxalat. Việc tăng oxalat sẽ tạo điều kiện tạo sỏi oxalat calci. Sỏi này phối hợp hằng định với lắng đọng calci.
5. Sỏi cystin:
Nguyên nhân do di truyền gen lặn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể thứ 14 làm cho rối loạn vận chuyển cystin ở ống thận và ở cả niêm mạc ruột. Sỏi cystin được hình thành thường kèm với một bệnh cảnh bệnh lý ống thận di truyền (đa niệu, hạ K+ máu).
Trên thực tế lâm sàng, sỏi thận tiết niệu đa số là sỏi hỗn hợp. Từ một loại sỏi đầu tiên không có calci  nhưng sau đó lắng đọng calci. 
II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:

Sỏi thận có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng tùy thuộc vào độ to nhỏ của sỏi, vào vị trí của sỏi,  vào các biến chứng do sỏi gây ra. 
a. thể do có tiền sử đái sỏi hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát nhiều lần: đái buốt, đái đục, đái rắt,  đái mủ tái phát nhiều lần, tiểu ra viên sỏi…
b. Đau: Có thể xuất hiện cơn đau dữ dội, gọi là “cơn đau quặn thận”. Đau thường bắt đầu từ các điểm niệu quản, đau lan dần theo đường đi từ niệu quản xuống phía gò mu, có khi đau xuyên cả ra hông, lưng. Kèm theo đau là một số triệu chứng như nôn, buồn nôn. Nguyên nhân đau thường là do sỏi di chuyển từ trên đài, bể thận xuống làm căng niệu quản,  lòng niệu quản bị tăng áp lực và co thắt niệu quản.
Có thể đau âm ỉ:  gặp ở trường hợp những sỏi vừa và thậm chí lớn nhưng nằm ở vị trí bể thận., những viên sỏi niệu quản rất nhỏ di chuyển cũng thường gây cơn đau êm dịu hơn.

Đau hông lưng còn có thể do ứ nước bể thận do sỏi trung bình và to ở niệu quản gây tắc nghẽn niệu quản.Cơn đau ở vùng lưng hông âm ỉ đôi khi có thể là một biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm bể thận cấp do sỏi. Trường hợp đau kèm theo bí tiểu có thể là do sỏi đã chít tắc ở cổ bàng quang hoặc lọt ra niệu đạo.
c. Tiểu ra máu: Có thể đại thể hoặc vi thể và là biến chứng thường gặp của sỏi thận tiết niệu, nhất là khi sỏi đang di chuyển bên trong niệu quản gây đau kèm tiểu ra máu.
d. Tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu mủ: Là biểu hiện của nhiễm khuẩn tiết niệu.
e. Sốt: Sốt cao, rét run kèm theo với triệu chứng đau hông lưng, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu mủ là dấu hiệu của viêm thận, viêm bể bể thận cấp.
f. Các dấu hiệu tắc nghẽn đường bài niệu:
– Sỏi bàng quang: tiểu tắc từng lúc, tiểu ngập ngừng.
– Sỏi niệu đạo: tiểu bị tắc hoàn toàn.
– Sỏi niệu quản hoặc sỏi bể thận chỗ đổ ra niệu quản: thận to: ứ nước bể thận 
Trên đây là nguyên nhân và biểu hiện lâm sàng của sỏi thận theo bệnh học. Mong rằng những kiến thức này sẽ đem lại hữu ích cho bạn đọc.

Have any Question or Comment?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *